Chuẩn đoán lâm sàng bệnh Parkinson

  1. NGUYÊN TẮC CHẨN ĐOÁN

Theo y học có thể đề ra ba nguyên tắc quan trọng đối với chẩn đoán bệnh Parkinson:

Nguyên tắc thứ nhất:

Phải nắm vững các triệu chứng cơ bản của bệnh. Barbeau (1984) nhấn mạnh tới bốn triệu chứng cổ điển nguyên phát là : Run, căng cứng cơ, giảm động và rối loạn điều chỉnh tư thế.

Nguyên tắc thứ hai:

Phải áp dụng các nghiệm pháp để phát hiện các triệu chứng nguyên phát chìm ẩn kín đáo.

Thực tế cho thấy có trường hợp mắc bệnh đã lâu nhưng thăm khám lâm sàng không thấy run, không giảm động, cũng không rối loạn tư thế nối cẳn phải có kỹ thuật và kỹ năng trong thăm khám để có thể làm lộ rõ các triệu chứng tiềm tàng nói trên.

Dấu hiệu bệnh Parkinson

Nguyên tắc thứ ba:

Phải cảnh giác trước các triệu chứng ít gặp, ba vấn đề cần chú ý:

Trước hết là đối với các triệu chứng phụ thêm vào triệu chứng cơ bản. Ví dụ bệnh nhân mắc bệnh

Parkinson có dáng đi chậm, bước nhỏ; bệnh nhân bị xơ cứng động mạch đi rụt rè; còn bệnh nhân bị teo trám – cầu – tiểu não thường đi dạng chân đế. Hiện tượng hạ huyết áp và các rối loạn thực vật thường không bao giờ nặng trong bệnh Parkinson nhưng nếu có biểu hiện nặng thì cần chú ý tới hội chứng Shy-Drager hoặc teo nhiều hệ nhân xám.

Vấn đề thứ hai là sự biến đổi của các triệu chứng nguyên phát. Ví dụ thông thường đầu bệnh nhân Parkinson ít bị run trừ khi đó là hậu quả của run nặng toàn thân; trong tổn thương nhân đỏ hoặc bệnh run gia đình, đầu bệnh nhân sẽ lắc ngang; còn trong giang mai thần kinh hoặc bệnh Wilson sẽ thấy run theo kiểu gật đầu.

>>> Xem thêm: Món quà từ những lời phê bình, chỉ tríchTrân trọng bản thân

Đối với căng cứng cơ cũng cần phân biệt với viêm khớp vai và đối với giảm động cũng cần loại trừ thiểu năng giáp hoặc trầm cảm.

Vấn đề thứ ba là một số đặc điểm trong bệnh sử.

Bệnh Parkinson thường khởi phát vào khoảng từ 40 đến 70 tuổi với đỉnh cao ở lứa tuổi 60. Tỷ lệ khởi phát trước 30 tuổi rất hiếm; tuy nhiên có một số trường hợp là các thể khởi phát sớm, xảy ra ở tuổi 45-54.

Một số yếu tố thuận lợi gây phát sinh bệnh là chấn thương nhất là các chấn thương nhiều lần vào đầu, xúc động, bị lạnh, mệt nhọc. Tỷ lệ có yếu tố gia đình là 5% (Adams và Victor, 1985). cần chú ý là 85% các trường hợp hội chứng Parkinson thường là bệnh Parkinson nguyên phát.

  1. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG

Cần chú ý đến các dấu hiệu và triệu chứng sớm.

  • Các đặc tính chủ yếu:
  • Run khi nghỉ ngơi
  • Vận động chậm chạp
  • Trạng thái căng cứng
  • Tư thế bất an

Các đặc điểm khám gồm:

  • Chữ viết nhỏ dần
  • Vẻ mặt không biểu hiện (như mang mặt nạ) Hoạt động chậm dần trong đời sống hàng ngày Khi đi ít ve vẩy tay
  • Dáng đi kéo lê chân, gấp thân cúi người.

Các triệu chứng phụ khác:

  • Khi ngồi khó đứng dậy
  • Khi nằm khó trở mình
  • Khi nói phát âm yếu
  • Chảy nhiều nước rãi
  • Mất khứu giác
  • Loạn trương lực bàn chân.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào
  • Hai trong số ba triệu chứng, nhất là run khi nghỉ và vận động chậm.
  • Không thấy có nguyên nhân khác như do thuốc an thần, do rối loạn chuyển hoá.
  • Chẩn đoán khẳng định cuối cùng phải dựa vào xét nghiệm vi thể phát hiện thấy:
  • Mất sắc tố ở liềm đen
  • Mất tế bào thần kinh
  • Có thể Lewy ở liềm đen .
    • Chẩn đoán phân biệt đối với thế không điển hình (hội chứng Parkinson) cần chú ý tới các đặc điểm như:
  • Bệnh khởi phát sớm hoặc tiến triển nhanh đến sa sút.
  • Quá trình tiến triển nhanh.
  • Liệt chức nàng nhìn do tổn thương trên nhân.
  • Dấu hiệu tổn thương tế bào thần kinh vận động phía trên: dấu hiệu Babinski, phản xạ gân xương tăng.
  • Có dấu hiệu tiểu não.
  • Tiểu tiện không tự chủ.
  • Hạ huyết áp tư thế triệu chứng.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *